Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

DI SẢN HÁN NÔM

MỘT SỐ TÀI LIỆU HÁN NÔM VỀ TIẾN SĨ

NGUYỄN THÁI BẠT( 1504 - 1527)

Hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1- NGỰ CHẾ VIỆT SỬ TỔNG VỊNH TẬP

Theo sách Ngự Chế Việt sử tổng vịnh. Q. 5. Ký hiệu VHv. 1559/2. Bản khắc gỗ của triều đình nhà Nguyễn có ghi về Tiến sĩ Nguyễn Thái Bạt như sau.

Phiên âm:
 Nguyễn Thái Bạt. Sử Ký: Nguyễn Thái Bạt, Cẩm Giàng, Bình Lãng nhân. Lê Quang  Thiệu Tiến sĩ, quan Hàn lâm viện. Mạc thị soán vị, Thái Bạt thác manh tật bất khuất. Đăng Dung cưỡng triệu chi; thỉnh cận tiền đối sự. Nhân mạ thóa Đăng Dung diện, toại ngộ hại. Hậu Cẩm Giàng dân lập miếu tự chi.
Thử nhật sơn hà bất nhẫn khan,
Dã cam mông cổ độc tân quan.
Nhất triều thóa diện kham ô nhĩ,
Phi thị sổ gia khả tự can.

Dịch nghĩa:
Nguyễn Thái Bạt, theo Sử ký chép rằng: “Nguyễn Thái Bạt người xã Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng. Đỗ Tiến sĩ triều vua Lê Quang Thiệu (1520), làm quan ở Hàn lâm viện. Khi họ Mạc đoạt ngôi vua Lê Chiêu Tông, Thái Bạt mượn cớ có tật mắt mù, không chịu khuất phục theo Mạc, nhưng Mạc Đăng Dung vẫn ép ông vào triều kiến; ông xin được ngồi đối diện tiếp kiến. Nhân đó thóa mạ mắng nhiếc vào mặt Đăng Dung, liền bị hãm hại. Sau này nhân dân Cẩm Giàng dựng miếu thờ ông”.

Có thơ ca ngợi rằng:
Sơn hà như vậy, không thể nhẫn tâm đứng nhìn,
Cam chịu mù lòa, một mình để tâm xem xét.
Vào chầu nhổ mặt, không chịu ô nhục cùng nhà ngươi(1),
Khen chê thế nào, để người sau tự đánh giá.

Chú thích:
1). Nhà ngươi: chỉ Mạc Đăng Dung.



2-TOÀN LÊ TIẾT NGHĨA LỤC

Theo sách Toàn Lê Tiết nghĩa lục.  Ký hiệu A.1444, trang 8. Mục Hậu Lê Công thần tiết nghĩa lục. Sách chép tay, có ghi:

Phiên âm:
Nguyễn Thái Bạt, Cẩm Giàng, Bình Lãng nhân. Quang Thiệu ngũ niên, Canh Thìn khoa Chính Tiến sĩ, sĩ chí Hàn lâm. Đế xuất thành nhật, tòng nghĩa nhi tử.
Hữu vịnh thi vân:
Hổ bảng danh cao tảo trí thân,
Hảo tương trung nghĩa đáp quân thân.
Sinh tam sự nhất chân vô quí,
Tu sát đương thời ngọc đới nhân.

Dịch nghĩa:
Nguyễn Thái Bạt người xã Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng. Thi đỗ Tiến sĩ chính khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5 ( 1520) đời vua Lê Chiêu Tông; làm quan ở Hàn lâm viện. Khi vua Lê Chiêu Tông bị cướp ngôi chạy khỏi Kinh thành, ông vì tiết nghĩa mà chết.
Có thơ ca ngợi rằng:
Danh cao bảng hổ sớm thành công,
Muốn đem trung nghĩa đáp quân thân.
Sinh tam sự nhất  thật chẳng thẹn, (1)
Để không xấu hổ với đương quan.(2)

Chú thích:
1).Sinh tam nhất sự: tức người quân tử sinh ra ở chế độ phong kiến xưa, theo Nho giáo có 3 đạo lớn: đạo vua tôi, đạo vợ chồng, đạo cha con. Trong câu thơ này ca ngợi Nguyễn Thái Bạt đã làm được một đạo lớn là đã làm tròn đạo vua tôi.
2).Đương quan: nguyên văn là “ đương thời ngọc đới nhân” (Người đương thời đeo ngọc) tức người làm quan đương thời theo nhà Mạc.


3-LÊ TRIỀU KHIẾU VỊNH THI TẬP

Theo sách Lê triều khiếu vịnh thi tập. Ký hiệu A.315, bản chép tay; có ghi lại như sau.

Phiên âm:
Nguyễn Thái Bạt Cẩm Giàng, Bình Lãng nhân. Quang Thiệu ngũ niên Canh Thìn khoa Chính bảng, thị khoa thập tam danh; Thái Bạt ư kỳ thủ. Sĩ chí Hàn lâm viện Hiệu lý. Chiêu Tông xuất thành nhật, giai kỳ sư Nguyễn Văn Vận tòng giá.
 Hậu dữ Văn Vận giai tử nghĩa.
Hổ bảng đề danh tảo trí thân,
Hảo tương trung hiếu đáp quân thân.
Sinh tam sự nhất chung vô tạc,
Tu sát hoàng kim hoành đới nhân.

Dịch nghĩa:
Nguyễn Thái Bạt người xã Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng. Khoa thi năm Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5 (1520), đỗ chính thức có 13 người; Nguyễn Thái Bạt đỗ Thủ khoa, làm quan đến chức Hiệu lý ở Hàn lâm viện. Khi vua Lê Chiêu Tông bị đoạt ngôi chạy khỏi Kinh thành, ông cùng thày học là Nguyễn Văn Vận theo hầu phò giá. Sau này cùng với Nguyễn Văn Vận đều chết vì nghĩa cả.
Có câu thơ rằng:
Bảng hổ đề tên sớm thành danh,
Muốn đem trung hiếu đáp quân vương.
Sinh tam sự nhất chẳng hổ thẹn,
Với quan đương nhiệm chẳng xấu theo.


MỘT SỐ CÂU ĐỐI  THỜ NGUYỄN THÁI BẠT

1. Đối Mạc sơn hà song nhãn bạch,
    Phù Lê xã tắc nhất tâm đan.
Dịch nghĩa:
Mắt nhìn khinh bạc trước giang sơn nhà Mạc,
Tấm lòng son sắt vẫn theo phò xã tắc nhà Lê.
2. Tiết nghĩa hận lai thừa nhất mạch,
     Tinh thành tự khả đối tam trung.
Dịch nghĩa:
Hận vì mất nước, tuân theo truyền thống tiết nghĩa,

Tự đem lòng thành, để sánh với đạo tam trung.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét